Phương pháp điều trị viêm khớp dạng thấp

Hiện nay, bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT) vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Các thuốc thường được dùng là thuốc điều trị căn bản hay còn gọi là nhóm thuốc DMARDs
VKDT là một trong các bệnh khớp mạn tính thường gặp nhất ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, chiếm khoảng 0,5-2% dân số. Đây là bệnh tự miễn khá điển hình ở người, dưới dạng viêm mạn tính ở nhiều khớp ngoại biên với biểu hiện khá đặc trưng: sưng, đau khớp, cứng khớp buổi sáng và đối xứng hai bên.
 

Các thuốc kinh điển điều trị VKDT

Có nhiều biện pháp điều trị đã được áp dụng bao gồm dùng thuốc và không dùng thuốc, cần phối hợp thuốc và phối hợp các biện pháp dùng thuốc và không dùng thuốc để đạt hiệu quả cao và giảm thiểu các biến chứng. Trong đó, các thuốc kinh điển thường được dùng là:
Thuốc điều trị triệu chứng: bao gồm các thuốc giảm đau, kháng viêm không steroid và glucocorticoid. Các thuốc giảm đau thường dùng có thể bao gồm một thành phần là paracetamol, tramadol hay kết hợp chẳng hạn như paracetamol kết hợp với codein hoặc tramadol hoặc dextropropoxyphene.
Các thuốc kháng viêm không steroid(NSAIDs) có đáp ứng thay đổi tùy bệnh nhân nhưng thường gây tác dụng phụ trên đường tiêu hóa và chức năng thận. Các thuốc glucocorticoid dùng đường truyền tĩnh mạch hoặc đường uống, chỉ dùng nhóm prednison, prednisolon hoặc methylprednisolon..
Thuốc điều trị căn bản: Gồm các thuốc có tác dụng thay đổi diễn tiến của bệnh (DMARDs: Didease – Modifying Anti- Rheumatic Drugs). Thuốc DMARDs kinh điển: Thường bắt đầu có tác dụng sau 8-12 tuần như methotrexate (MTX), leflunomide, sulfasalazine, hydroxychloroquin.
Thuốc sinh học
Các thuốc sinh học có vai trò quan trọng trong điều trị bệnh bao gồm: các cytokin viêm như TNF-alpha, Interleukin-1, Interleukin-6…Đặc trưng của nhóm thuốc này có hiệu quả cao, tác dụng nhanh và dung nạp tốt và gần như không gây tác dụng phụ.
Thuộc nhóm này có các thuốc:
Thuốc ức chế cạnh tranh yếu tố hoại tử khối u: etanercept infliximab, adalimunab; thuốc ức chế tế bào T; thuốc ức chế tế bào B: Rituximab; thuốc ức chế Interleukine 1; thuốc ức chế thụ thể Interleukine 6 (Tocilizumab).
Các thuốc sinh học này không được khuyến cáo dùng phối hợp với nhau. Thường dùng phối hợp thuốc sinh học với methotrexat. Hiện nay, ở Việt Nam chỉ mới lưu hành 3 thuốc sinh học sau: entanercept, abatacept, tocilizumab được chỉ định trong các trường hợp bệnh tự miễn (viêm khớp dạng thấp, luput ban đỏ hệ thống, viêm cột sống dính khớp, viêm khớp vảy nến, vảy nến thể mảng…).

Chia sẻ:
Đánh giá: 1 lượt
8/10
Cảm ơn đánh giá của bạn!

Giúp khớp chắc khỏe - Dự phòng cho người trẻ, sức khỏe cho người già

* Điền thông tin để đặt hàng trực tuyến:

GIAO HÀNG MIỄN PHÍ (2 HỘP TRỞ LÊN), THANH TOÁN TẠI NHÀ

GHV Bone 30 viên (280.000đ)
GHV Bone 60 viên (525.000đ)
Tổng giá:
  • Giúp duy trì và bảo vệ sụn khớp, tăng tiết dịch khớp
  • Hỗ trợ giảm triệu chứng viêm khớp, thoái hóa khớp
  • Giúp giảm đau do khô khớp, giúp khớp vận động linh hoạt

Lý do khách hàng tin tưởng sản phẩm GHV Bone

Được chuyển giao từ đề tài khoa học thuộc viện Hàn Lâm KH & CN Việt Nam
Được hàng chục ngàn khách hàng tin dùng
Được Bộ Y Tế cấp phép lưu hành.
Chuyên gia tư vấn 24/7

Javascript của bạn không hoạt động.

Đơn hàng có thể sẽ không gửi được đến quản trị viên.

Vui lòng gọi hotline: 1800 6808 để được tư vấn và đặt hàng.

Xin cảm ơn!

0 bình luận